Những năm gần đây, thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, Xã Bình Minh đã từng bước đưa kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI vào sản xuất, mang lại hiệu quả tích cực cho người nông dân. Để chủ động trong sản xuất, đảm bảo khung lịch thời vụ và cây lúa sinh trưởng, phát triển khỏe, cho năng suất, chất lượng cao. Trung tâm dịch vụ tổng hợp xã Bình Minh hướng dẫn một số biện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) để giảm thiểu dịch hại lúa vụ Xuân 2026 như sau:
1. Chăm sóc mạ:
Qua kiểm tra thực tế của cán bộ kỹ thuật của Trung tâm mạ trên địa bàn xã đang sinh trưởng phát triển tốt đạt 1,0 - 2,0 lá (một số diện tích mạ gieo sớm 3-3,5 lá). Cần giữ cho mạ đủ ấm, ẩm (ẩm độ 85 – 90%) giữ nước ở rãnh luống đảm bảo mạ xúc ra ruộng cấy không bị chết.
Lưu ý: - Những ngày tới, nhiệt độ tăng cao, buổi trưa có nắng cần kiểm tra mở đầu nilon tránh gây hẩu mạ non. Mở hai đầu nilon 1-2 ngày sau đó thì mở hẳn 2-3 ngày, cho mạ làm quen với nhiệt độ môi trường bên ngoài mới đem cấy.
- Tuyệt đối không được bón các loại phân có chứa đạm, phun các loại phân qua lá cho mạ giai đoạn này.
2. Thời vụ cấy:
- Tập trung cấy lúa Xuân từ 20 - 28/02/2026 (Một số diện tích mạ gieo sớm 20-22/01, tổ chức cấy 12-14/2) theo đúng kế hoạch sản xuất vụ Xuân 2026 của UBND xã.
Lưu ý: Chỉ cấy lúa xuân khi nhiệt độ bình quân ngày trên 160C, xúc mạ cấy, tuổi mạ từ 3 – 3,5 lá, đảm bảo đủ nước mặt ruộng.
Hình ảnh minh hoạ
3. Kỹ thuật làm đất và cấy:
- Để ứng dụng quy trình thâm canh lúa cải tiến (SRI) hiệu quả, bắt buộc phải chủ động tưới tiêu nước.
- Làm đất kỹ, nhuyễn bùn, sạch cỏ dại, tạo độ phẳng cả ruộng, tạo luống rộng 1,8-2,0 m, san phẳng mặt luống, giữa các luống tạo rãnh thoát nước rộng 25 - 30 cm, sâu 8-10 cm.
- Xúc mạ cấy, không để mạ qua đêm, tránh để mạ dập nát, ôi làm lúa sinh trưởng, phát triển chậm sau cấy.
- Cấy nông tay, cấy thưa, cấy vuông mắt sàng để cây lúa tận dụng tối đa ánh sáng và bộ rễ có khả năng ăn sâu, ăn rộng, hút được nhiều dinh dưỡng, tăng khả năng chống đổ. Mật độ cấy 25 - 35 khóm/m2 (một số giống lúa lai, nếp cấy 18- 25 khóm/m2) , cấy 1 dảnh/ khóm.
4. Bón phân, chăm sóc và điều tiết nước:
- Lượng phân bón cho 1 sào:
+ Phân chuồng hoai mục: 200 – 300 kg (Nếu không có phân chuồng có thể sử dụng phân vi sinh lượng 30 – 50 kg);
+ Phân lân 15 - 20 kg (Đối với chân đất vàn nên bón super lân lâm thao, chân đất trũng nên bón phân lân nung chảy văn điển);
+ Đạm Ure: 2 - 4 kg;
+ Kali 4-6 kg;
+ Diện tích hẩu trũng gần cống rãnh, nguồn nước ô nhiễm có thể sử dụng 10 -15 kg vôi bột.
Chú ý: Do ảnh hưởng của nguồn nước tưới hiện nay, lượng đạm tự do trong nước tương đối cao nên cần bón giảm lượng đạm cho lúa tùy từng chân đất, giống lúa và sinh trưởng phát triển của cây lúa để bón lượng đạm cho phù hợp. Đặc biệt đối với những chân đất trũng có thể sử dụng các loại phân NPK nhả chậm có hàm lượng đạm thấp (Sử dụng NPK theo khuyến cáo của nhà sản xuất).
- Phương pháp bón:
+ Bón lót: trước bừa cấy 100% lượng phân chuồng (hoặc phân vi sinh) và phân lân; Đạm Ure bón 1 - 1,5 kg/sào (chỉ bón đạm khi nhiệt độ bình quân ngày trên 160C) .
+ Bón thúc lần 1: khi lúa cấy ra lá mới, bón Đạm Ure bón 1 – 2 kg/sào; 50 % Kali 2-3 kg/sào. Kết hợp với làm cỏ sục bùn để kích thích lúa đẻ nhánh sớm, tập trung.
+ Bón thúc lần 2: Bón khi cây lúa bắt đầu phân hoá đòng. Bón Đạm Ure bón 0 – 0,5 kg/sào; 50 % Kali 2 - 3 kg/sào (Tuỳ thuộc vào màu xanh của cây để quyết định lượng bón thúc lần 2, nếu cây lúa có biểu hiện xanh lốp dừng bón các loại phân).
Chú ý: Để hạn chế dịch hại lúa phát sinh gây hại, đặc biệt là bệnh bạc lá vi khuẩn không nên sử dụng các loại phân chứa thành phần đạm bón đón đòng cho lúa; tập trung bón phân sớm cho lúa trong giai đoạn đẻ nhánh, tuyệt đối không bón phân lai dai, bón thừa đạm.
- Điều tiết nước: Đây là khâu đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa lớn, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của bộ rễ, sinh trưởng phát triển và tính chống chịu của cây lúa, cụ thể:
+ Sau cấy đến đẻ nhánh (thời gian khoảng 20 ngày): Giữ nước trong ruộng 3-5 cm.
+ Sau bón thúc đẻ nhánh 5-7 ngày rút cạn nước để ruộng khô nứt chân chim.
+ Khi bón thúc đợt 2 (Bón đón đòng) giữ mực nước nông thường xuyên, ổn định 5-7 cm đến khi lúa chín sáp.
+ Khi lúa chín sáp rút cạn nước để lúa chín nhanh, tập trung, tạo thuận lợi cho thu hoạch.
* Lưu ý: Trên đất thịt nhẹ, đất cát pha khi rút nước chú ý không để trắng đất, cây lúa bị héo do thiếu nước.
5. Phòng trừ sâu bệnh:
Các đối tượng dịch hại lúa chủ yếu vụ Xuân cần chú ý: Chuột, Ốc bươu vàng, sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy, Bệnh đạo ôn hại lá, bệnh đạo ôn hại cổ bông, bệnh bạc lá vi khuẩn, bệnh đốm sọc vi khuẩn, bệnh khô vằn,…
Việc triển khai kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI là hướng đi phù hợp trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp bền vững hiện nay. Không chỉ mang lại lợi ích cho người sản xuất mà còn góp phần bảo vệ môi trường, hướng tới nền nông nghiệp phát triển bền vững