Hội nghị được kết nối từ điểm cầu phòng họp Diên Hồng, Nhà Quốc hội tới 27.284 điểm cầu trong cả nước là các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; các ban, bộ, ngành, đơn vị trung ương và các điểm cầu cấp cơ sở cả nước, với hơn 2 triệu cán bộ, đảng viên tham dự.
Các đại biểu dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương.
Hội nghị được phát trực tiếp trên Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các nền tảng số để nhân dân cả nước theo dõi.
Dự tại điểm cầu xã Bình Minh có Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐND xã Nguyễn Khánh Bình; Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ xã Lê Văn Ân; Phó Bí thư, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Đăng Việt. Cùng dự có Ban Thường vụ Đảng uỷ, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã, Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND, Uỷ ban MTTQ xã; lãnh đạo các phòng, ban, ngành, đơn vị trực thuộc UBND xã; lãnh đạo, chuyên viên các cơ quan tham mưu, giúp việc thuộc Đảng uỷ, HĐND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam xã; bí thư các Đảng bộ, chi bộ cơ sở và các chi bộ trực thuộc
Hội nghị nhằm giúp cán bộ, đảng viên nắm vững những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 79-NQ/TƯ, ngày 6-1-2026 của Bộ Chính trị về "Phát triển kinh tế nhà nước" và Nghị quyết số 80-NQ/TƯ, ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về "Phát triển văn hóa Việt Nam" cùng chương trình hành động triển khai thực hiện nghị quyết; trên cơ sở đó, các cấp ủy xây dựng chương trình hành động, lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các Nghị quyết đồng bộ, hiệu quả, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Trong tổng thể đó, Nghị quyết số 80-NQ/TƯ thể hiện sự đồng bộ, hài hòa và tương thích với định hướng chiến lược chung, trong đó, văn hóa và con người được đặt ở vị trí trung tâm của sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Điểm nhấn nổi bật trong Nghị quyết là sự phát triển nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa. Nếu trước đây, văn hóa chủ yếu được xác định là “nền tảng tinh thần của xã hội”, thì Nghị quyết 80-NQ/TƯ khẳng định mạnh mẽ hơn: Văn hóa, con người là nền tảng, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển đất nước. Quan điểm này không chỉ là sự điều chỉnh về mặt khái niệm, mà phản ánh sự phát triển lý luận sâu sắc, phù hợp thực tiễn phát triển của đất nước và thế giới hiện đại.
Một điểm nổi bật là Nghị quyết không chỉ dừng ở việc xác định mục tiêu chung, mà còn gắn các mục tiêu đó với những chỉ tiêu cụ thể, có thể đo lường và đánh giá kết quả. Đây là biểu hiện rõ nét của tư duy khoa học, thực tiễn, khắc phục tình trạng mục tiêu chung chung, khó kiểm chứng.
Đối với phát triển công nghiệp văn hóa, Nghị quyết đặt ra mục tiêu hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời xác định rõ tỷ lệ đóng góp vào GDP và xây dựng thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa. Trong đầu tư cho văn hóa, Nghị quyết khẳng định quan điểm “đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển đất nước”, đồng thời, lần đầu tiên đưa ra yêu cầu cụ thể về tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho văn hóa ở mức tối thiểu, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao trong việc bảo đảm nguồn lực cho lĩnh vực này.
Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Trong đó, mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.
Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.
Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79-NQ/TƯ, yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách.
Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết số 79-NQ/TƯ đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.
Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.
Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TƯ của Bộ Chính trị.
Thứ ba, bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Thứ tư, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TƯ, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.
Thứ năm, xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.