Theo hồi cố của các bậc cao niên và truyền thuyết địa phương thì ngôi đình có từ thời Hán nhưng đã bị phá hủy. Đến thời nhà Minh, đình được xây dựng lại trên nền đất cũ. Năm 1918, ngôi đình được tu bổ lại. Năm 1947, thực hiện tiêu thổ kháng chiến, ngôi đình đã bị phá dỡ toàn bộ chỉ còn lại hạng mục cổng ngoài. Năm 2010, nhân kỷ niệm đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, ngôi đình đã được tu bổ như hiện nay.
Theo thuyết phong thủy thì đình Nội Bình Đà tọa lạc trên thế đất "Kim quy ẩm thủy" (Rùa vàng ngắm nước). Tổng thể các đơn nguyên kiến trúc của Đình Nội Bình Đà gốm có: Nhà khách, tiền môn, tả hữu mạc, phương đình, đại bái, trung cung và hậu cung.
Nguồn ảnh tư liệu: Sách Du lịch Thanh Oai
Hạng mục đầu tiên của di tích là nhà khách. Nhà khách là ngôi nhà dọc 5 gian làm theo kiểu "Tường hồi bít đốc", mái lợp ngói ri, các bộ vì làm theo kiểu "Thượng giá chiêng chồng rường, hạ bán giá chiêng chồng rường". Phía sau nhà khách là nhà điều hành lễ hội. Sau nhà tiếp khách là nhà cầu xóm Quếch.
Tiền môn gồm ba gian làm theo kiểu "Thượng gia hạ môn" gồm ba gian "Tường hồi bít đốc trụ biểu" mái lợp ngói ri. Đứng từ ngoài nhìn vào, chính giữa là hình tượng lý ngư chầu nậm rượu. Hai bên bờ nóc là hai con kìm lá cách điệu. Phía ngoài cùng là hai trụ biểu.
Bốn bờ nóc mái tiền môn được làm giống nhau theo kiểu kèo kẻ. Nối từ tiền môn sang hai bên là hai cổng phụ làm theo kiểu hai tầng tám mái thắt cổ diêm giả ngói ống. Thường du khách khi đến chiêm bái di tích đi theo phía bên tả dẫn vào trong. Các cửa của tiền môn chỉ được mở khi làng vào đám.
Nằm hai bên sườn của tiền môn là tả, hữu mạc. Hai hạng mục này làm tương tự nhau theo kiểu "Tường hồi bít đốc, tay ngai trụ biểu" gồm năm gian, mái lợp ngói ri. Các bộ vì bên trong làm theo kiểu "Thượng chồng rường, hạ kẻ ngồi, bảy hiên" trên hai hàng chân cột. Tại các bẩy hiên trang trí vân mây.
Ngay sát phía sau tiền môn là phương đình, làm theo kiểu hai tầng tám mái đao cong thắt cổ diêm. Chính giữa đỉnh bờ nóc tầng trên là hình tượng hổ phù đội mặt trời, hai đầu bờ nóc là hai con kìm lá cách điệu. Bốn đầu đao tầng trên đắp "Long quoài phượng mớm", bưng ván dong ở hai đầu hồi.
Ngăn cách giữa tầng trên và tầng dưới là phần thắt cổ diêm. Tại bốn góc cổ diêm đặt tám long mã.
Vào bên trong là các bộ vì đỡ mái. Hai bộ vì phía trên làm theo kiểu cốn mê, trang trí hình hổ phù. Các bộ vì hậu cung làm theo kiểu cốn mê trang trí đề tài tứ linh. Bốn bức ván dong phần chính giữa trang trí hình vân mây.
Nổi bật nhất là bộ khung chịu lực gồm tám cột cái và mười hai cột quân. Bốn cột cái chạy thẳng từ trên xuống chịu lực chính. Các cột tại hạng mục náy[ đỏ và vẽ "Long đằng vân".
Hạng mục tiếp theo của di tích là đại bái năm gian làm theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai trụ biểu, mái lợp ngói ri. Đỉnh bờ nóc đắp lưỡng long chầu hổ phù đội mặt trời.
Từ sân bước lên bậc tam cấp là tới hệ thống cửa bức bàn làm theo kiểu "Thượng song hạ bản" tương ứng với các gian. Vào bên trong là các bộ vì đỡ mái được làm theo hai dạng cách: Bốn bộ vì giữa làm theo kiểu "Thượng giá chiêng con nhị, hạ cốn mê" trên bốn hàng chân cột; hai bộ vì hồi làm theo kiểu "Thượng cốn mê, hạ cốn mê" trên bốn hàng chân cột. Tại cấu kiện của các các bộ vì này chạm lộng hình rồng, hoa lá và hoa văn chữ triện.
Tại đây bài trí năm ban thờ: Hai ban thờ gian hồi, ba ban thờ phía sau. Tại các ban thờ này, ban thờ gian giữa trang hoàng lộng lẫy nhất.
Nằm ngay sát đại bái là trung cung ba gian hai dĩ làm theo kiểu tường hồi bít đốc. Các bộ vì được làm thống nhất theo kiểu "Giá chiêng chồng rường" nằm trên quá giang gối lên hai đầu bờ tường, trang trí hoa lá và vân mây và bài trí ba ban thờ. Nối từ gian giữa trung cung về phí sau là hậu cung, tạo thành kết cấu kiểu chữ "Đinh". Hậu cung gồm một gian nhỏ đặt bức phù điêu thời Lê đã được Thủ tướng chính phủ ký Quyết định công nhận là bảo vật Quốc gia.
Trích nguồn ảnh: Sách Du lịch Thanh Oai
Đây là hiện vật có giá trị đặc biệt của di tích này. Bức phù điêu chạm khắc hình tượng đức Lạc Long Quân và những nhân vật thời Hùng Vương với các nét chạm khắc tinh xảo trên nền gỗ sơn son thếp vàng, miêu tả cảnh Lạc Long Quân cùng văn võ bá quan xem hội đua thuyền, tái hiện sống động cảnh sinh hoạt thời đại Hùng Vương. Lạc Long Quân ngự trên ngai vàng, đầu đội vương miện chạm hình "lưỡng long chầu nguyệt" với khuôn mặt hiền từ, phúc hậu, mình khoác long bào, vóc dáng bệ vệ, oai phong.
Ba tầng trên cùng là biểu tượng của nhà nước sơ khai song vẫn có đủ triều thần văn quan võ tướng mang ý nghĩa về sự phát triển từ Lạc Long Quân đến thời Hùng Vương thứ nhất. Ngoài giá trị lịch sử, độc bản, nghệ thuật bức giá còn thể hiện rõ tư tưởng tín ngưỡng tôn giáo và văn hóa dân gian giúp mọi người nhớ về nguồn cội dân tộc. Bức giá tượng được trùng tu nhiều lần song vẫn giữ nguyên các giá trị gốc.
Theo dòng thời gian, câu chuyện huyền thoại về Lạc Long Quân và vợ là Âu Cơ vẫn được lưu truyền ở Việt Nam có thêm những chi tiết về nơi Ngài mất. Truyện kể rằng: Khi 100 người con được nở từ bọc trăm trứng của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã khôn lớn, một hôm Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: "Ta vốn là cháu Thủy thần, nàng thuộc giống Tiên, nước - lửa khắc nhau, không thể kết hợp lâu dài. Vậy xin chia tay để giữ lấy dòng giống. Nàng hãy đem 50 con lên núi, ta đem 50 xuống biển, cùng khai cơ mở nghiệp". Âu Cơ vâng lời, mang 50 người con lên đất Phong Châu. Người con trưởng chọn núi Nghĩa Lĩnh dừng chân, xưng vương, lấy niên hiệu là Hùng Vương, lập nước Văn Lang, xây dựng cơ nghiệp, truyền ngôi được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương. Lạc Long Quân cùng 50 người con còn lại xuôi đường ra biển. Đến đất Bình Đà, thấy thế đất nơi đây màu mỡ, sông suối lượn quanh, nhiều thềm đất cao mang dáng rồng chầu, hổ phục, bèn quyết chọn đất này làm nơi dựng xây cơ nghiệp. Ngày ngày, Lạc Long Quân cùng các con dạy dân trồng lúa nước, trồng dâu nuôi tằm dệt vải, đuổi diệt thú dữ. Lại truyền cho các con lựa chọn dân chúng khỏe mạnh, tỏa đi khắp vùng duyên hải khai khẩn đất đai, mở mang bờ cõi… Vào một ngày cuối tháng Hai âm lịch, Lạc Long Quân hóa trong đêm. Cảm thương và tỏ lòng tri ân với người có công khai phá vùng đất này, dân chúng cùng nhau tổ chức tang lễ linh đình, táng Ngài ở gò đất cao nhất vùng, lập miếu quanh năm hương khói phụng thờ Ngài và tôn vinh là Thành hoàng của làng. Kể từ đó, hàng năm, cứ vào đầu tháng Ba Âm lịch, người dân Bình Đà lại cùng nhau mở hội làng với hình thức tôn nghiêm nhất để tưởng nhớ và tri ân Đức Thánh Tổ Lạc Long Quân.
Huyền thoại này được người dân Bình Đà truyền từ đời này qua đời khác và họ luôn tin rằng đây chính là quê hương của Đức Thánh Lạc Long Quân. Họ còn chỉ rõ vị trí được coi là mộ của Ngài, nằm ngay cạnh khu đình Nội, nơi hàng năm nhân dân vẫn thành kính hương khói tế lễ.
Lễ hội làng Bình Đà được tổ chức hàng năm tại đình Nội và đình Ngoại để tưởng nhớ và tri ân hai vị Thành hoàng của làng. Ngoài các nghi lễ giống như ở các lễ hội khác vùng đồng bằng Bắc Bộ, vào ngày giỗ chính của hai vị Thánh: 26 tháng Hai và mồng 6 tháng Ba âm lịch, có nghi lễ dâng hai lễ vật đặc biệt: Dâng bò tế Đương Cảnh Thành hoàng Linh Lang Đại vương và dâng bánh chay tế Đức Quốc tổ Lạc Long Quân. Hai nghi lễ này tạo nên nét đặc trưng riêng của lễ hội làng Bình Đà.
Trước kia, chỉ sau Hội một tháng, các giáp đã phải họp để chọn gia đình nuôi bò, chuẩn bị cho lễ tế bò năm tới. Các giáp chọn những gia đình song toàn, không vướng tang cớ, con cháu đề huề để nuôi bò cúng tế. Bò được chọn mua về nuôi phải là bò đực, khỏe mạnh, đẹp theo những tiêu chuẩn nhất định như: đường sống lưng bằng phẳng, ngực sâu và rộng, mông to, các chân cân đối, lông trơn và không giòn…. Gia đình được chọn phải làm chuồng bò mới ở nơi cao ráo sạch sẽ để nuôi riêng, không được nuôi chung với các con bò khác. Cỏ cho bò ăn cũng phải tự trồng riêng, sạch sẽ. Trước Hội một tháng, làng sẽ chọn một con bò béo đẹp nhất làm lễ dâng Thánh. Giáp nào được chọn bò làm lễ dâng Thánh được coi là may mắn vì năm đó sẽ được Thánh phù hộ.
Trước ngày làm lễ, gia đình sở tại phải chăm cho bò loại cỏ tươi thơm, hàng ngày phải đun nước cây thơm (hương nhu, xả) để tắm cho bò. Đến ngày hội, bò được tắm rửa bằng nước giếng của đình, cho nhịn ăn từ hôm trước (ngày 24 tháng Hai âm lịch). Ngày 25, bò được cho mặc áo và rước từ gia đình nuôi bò đến đình Ngoại làm lễ tế bò sống. Ngày 26 là lễ tế bò chín. Một hương án lớn được đặt ở sân đình. Bò sẽ được thui chín cả con đặt lên trước hương án đầu quay vào trong đình, cùng với toàn bộ tiết và nội tạng. Ban tế đình Ngoại làm nghi thức tế lễ dâng Thánh. Tế xong, bò được mang về chia cho các gia đình trong thôn để lấy lộc.
Một nghi lễ quan trọng được thực hành trong lễ hội làng Bình Đà tưởng nhớ Đức Thánh tổ Lạc Long Quân đó là lệ làm và dâng bánh Vía. Tục hèm này đã có từ lâu và được truyền lại cho đến bây giờ với nhiều bí mật được các cụ cao niên dấu kín, với ý "thiên cơ bất khả lộ". Xưa kia làng có 7 dòng họ, nhưng chỉ duy nhất dòng họ Nguyễn Văn được chọn để làm bánh Vía. Các dòng họ khác cứ thế mà tiến hành, chưa thấy ai thắc mắc điều gì. Bí quyết làm bánh và số lượng bánh được làm dâng Thánh chỉ có Trưởng tộc Nguyễn Văn nắm giữ. Bí quyết này sẽ được truyền lại cho Trưởng tộc thế hệ tiếp theo. Trong trường hợp không có con trưởng, dòng họ sẽ phải làm lễ phong trưởng, tức là lựa chọn con trai của con chi nhánh kế tiếp để phong trưởng.
Bánh được làm bằng gạo nếp giã trộn với 100 vị thuốc bắc. Công thức làm được truyền miệng từ người cha. Nơi làm bánh được quây kín bằng vải đỏ, không ai được vào, kể cả vợ con ông. Việc làm bánh chỉ do một mình ông thực hiện, từ việc chọn gạo, chọn vị thuốc, giã và hấp bánh. Bánh làm xong được "bí mật" đặt vào đài (hộp gỗ có trang trí), phủ vải điều đợi rước kiệu ra đền làm lễ. Bánh được làm vào ngày mồng 5 tháng 3 Âm lịch, rước ra đền làm lễ thỉnh bánh vào đêm đó, sáng ngày mồng 6, chính Hội sẽ làm lễ thả bánh Vía ở giếng Ngọc. Đây chính là nét đặc trưng nhất của lễ hội Bình Đà: lễ vật dâng Thánh được thả xuống nước.
Giếng Ngọc còn gọi là giếng chùa Cả, có mạch ngầm thông ra sông Đáy. Trước đây, giếng nằm trong khuôn viên ngôi chùa Cả nên có tên như vậy. Ngôi chùa đã bị phá huỷ trong chiến tranh. Trong lễ hội cổ truyền hàng năm, cứ vào ngày mồng 6 tháng 3 Âm lịch có lệ rước bánh Vía thả xuống giếng này.
Tương truyền Giếng Ngọc có mạch ngầm thông xuống Thủy cung. Đức Quốc tổ Lạc Long Quân là giống Rồng, vốn sống ở Thủy cung nên bánh dâng cho Ngài phải đưa được xuống Thủy cung Ngài mới nhận được. Cũng có thuyết khác cho rằng: Giếng Ngọc là nơi huyệt thiêng, nối dòng nước với dòng sông Đáy và mạch nước ngược đến tận Ba Vì, nơi thờ Đức Thánh Tản. Thả bánh Vía là một hình thức thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn", hướng về Thánh Tổ và những bậc tổ tiên có công với dân với nước.
Theo các bậc cao niên trong làng, cho đến nay, đây vẫn là tục hèm đặc biệt của người dân Bình Đà, với ý thiên cơ bất khả lộ, tuyệt đối giữ bí mật cung cách thả bánh trong mọi trường hợp. Khi rước bánh từ đền ra, đặt ngay lên kiệu, bao giờ cũng có cờ, quạt, lọng che. Khi thả bánh xuống giếng Ngọc, phải có vải điều phủ kín. Riêng việc làm bánh, trong làng chỉ có một gia đình cha truyền con nối mới được phép làm bánh Thánh này. Và người thả bánh trong năm phải là người tế chủ năm đó.
Vào ngày chính hội, xung quanh giếng Ngọc, cả ngàn người khấp khởi chen nhau chờ đợi. Tại đây đã quây sẵn một đài nhiễu điều. Đọc thần chú xong, quan tế mở đài lấy từng chiếc bánh bóp nát thả xuống nước. Theo tục hèm, khi thả bánh xong, bánh chìm hết xuống giếng mới tốt và người hành lễ mới tròn trách nhiệm.
Với những giá trị đặc trưng như vậy, Bức phù điêu Đình Nội Bình Đà đã được Chính phủ xếp là Bảo vật Quốc gia tại Quyết định số 2382/QĐ-TTg ngày 25/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
Lê Liêm
(Ban Quản lý di tích danh thắng Hà Nội)